Ngân hàng Phát triển châu Á

04/11/2013
ADB là một ngân hàng phát triển đa phương thuộc sở hữu của 67 thành viên, trong đó có 48 thành viên trong khu vực và 19 thành viên ngoài khu vực. Công cụ chính của ADB để trợ giúp các nước thành viên đang phát triển là đối thoại chính sách, các hoạt động cho vay, đầu tư cổ phần, bảo lãnh, viện trợ không hoàn lại và hỗ trợ kỹ thuật (TA)

Ngân hàng phát triển Châu Á (ADB)

ADB là một ngân hàng phát triển đa phương thuộc sở hữu của 67 thành viên, trong đó có 48 thành viên trong khu vực và 19 thành viên ngoài khu vực. Công cụ chính của ADB để trợ giúp các nước thành viên đang phát triển là đối thoại chính sách, các hoạt động cho vay, đầu tư cổ phần, bảo lãnh, viện trợ không hoàn lại và hỗ trợ kỹ thuật (TA). Trong vòng 5 năm (2004-2008), trung bình mỗi năm tổng giá trị các khoản vay của ADB là 7,7 tỷ USD, hỗ trợ kỹ thuật là 231,5 triệu USD và viện trợ không hoàn lại là 655,1 triệu USD. Tính đến ngày 31/12/2008, tổng giá trị lũy kế các khoản vay là 143,53 tỷ USD cho 2.147 dự án tại 41 quốc gia trên thế giới, viện trợ không hoàn lại 4,08 tỷ USD cho 263 dự án và hỗ trợ kỹ thuật tương đương 3,5 tỷ USD cho 6.599 dự án.

 

ViệtNamlà cổ đông đóng góp lớn thứ 21 trong số các thành viên trong khu vực và là cổ đông đóng góp lớn thứ 29 trong tổng số toàn bộ các thành viên

Việt nam và Thành viên của ADB

               Gia nhập                                             năm 1966

               Cổ phần nắm giữ                              12.076 (0,34%)

               Số phiếu bầu nắm giữ     25.308 (0,57%)

Kyung-Hoh Kimlà Giám đốc điều hành vàJames Tsuen-Hua Shihlà Giám đốc Điều hành phụ khuyết đại diện cho Việt nam trong ban Giám đốc Điều hành của ADB.
Ayumi Konishilà Giám đốc Quốc gia của ADB tại ViệtNam. Văn phòng Cơ quan đại diện thường trú của ADB tại Việt Nam (VRM) được khai trương vào năm 1997. VRM là đầu mối liên lạc hoạt động chủ yếu giữa ADB với chính phủ, khu vực tư nhân và các tổ chức xã hội liên quan. VRM tham gia vào các hoạt động và đối thoại chính sách tại ViệtNamtrên cơ sở những kiến thức của mình về các vấn đề phát triển.Cơ quan chính phủ Việt nam chịu trách nhiệm về các hoạt động liên quan đến ADB là Ngân hàng Nhà nước Việt nam.

 

Văn phòng ADB tại ViệtNam

Phòng 701-706 tòa nhà Mặt trời sông Hồng

23 Phan Chu Trinh, Hoàn Kiếm, Hà Nội, ViệtNam

Điện thoại: +84 4 39331374

Fax: +84 4 39331373

www.adb.org/vietnam

 

Trụ sở chính của ADB

6 ADB Avenue,MandaluyongCity

1550 MetroManila,Philippines

Điện thoại: +63 2 6324444

Fax: +63 2 6324444

Information@adb.org

 

Ngân hàng Nhà nước ViệtNam

47-49 Lý Thái Tổ, Hoàn Kiếm, Hà Nội, ViệtNam

Điện thoại: +84 4 39363871 / 39343364

Fax: +84 4 39349569 / 38250612

www.sbv.gov.vn

 

Quan hệ với ADB

 

Việt Nam là một trong những thành viên sáng lập của Ngân hàng Phát triển Châu Á (ADB) khi ngân hàng được thành lập vào năm 1966, nhưng các hoạt động hớp tác đã bị ngừng lại trong giai đoạn từ 1979 đến 1992, trước khi được nối lại vào năm 1993. Tổng số các khoản hỗ trợ kể từ khi ADB tái hoạt động tại Việt Nam bao gồm 78 khoản vay chính phủ trị giá 6,03 tỷ USD, 225 dự án hỗ trợ kỹ thuật trị giá 176,69 triệu USD và 23 dự án viện trợ không hoàn lại trị giá 135,6 triệu USD. ADB cũng đã phê duyệt 9 khoản vay phi chính phủ, 2 khoản bảo lãnh rủi ro chính trị và một khoản vay loại B với tổng trị giá 305 triệu USD. ADB còn tài trợ cho một số dự án hỗ trợ kỹ thuật khu vực trong khuôn khổ Tiểu vùng Mê-Kông mở rộng (GMS).

               ViệtNamhiện tại là một trong những nước nhận được nguồn vốn hỗ trợ ưu đãi nhất từ Quỹ phát triển Châu Á (ADF). ViệtNamcũng là một đối tác quan trọng trong hoạt động vay vốn thông thường(OCR).

 

Tác động hỗ trợ

 

Ban đầu hoạt động của ADB tập trung vào việc khôi phục cơ sở hạ tầng và hỗ trợ các cải cách kinh tế. Kể từ năm 2002, ADB hỗ trợ các nỗ lực của chính phủ nhằm giảm nghèo, tập trung vào tăng trưởng bền vững, phát triển xã hội toàn diện, quản lý tốt và trọng tâm địa lý được đặt vào khu vực miền Trung. Một đánh giá vào năm 2002 cho thấy các dự án của ADB trong Chương trình và Chiến lược Quốc gia (CSP) giai đoạn 2002-2004 đã đáp ứng được những chiến lược phát triển của Việt Nam và đóng góp cho việc thực hiện những mục tiêu phát triển của đất nước. Đánh giá kiến nghị cần tập trung hơn nữa các hoạt động của ADB nhằm tăng cường hiệu quả phát triển, giảm các chi phí giao dịch và chi phí chung.

               Trong lĩnh vực cơ sở hạ tầng, tầm quan trọng của hoạt động hỗ trợ của ADB được xác định qua quá trình chuyển đổi kinh tế của đất nước và sự tăng nhanh chóng của đầu tư nước ngoài và đầu tư trong nước vào khu vực sản xuất chế tạo. Đặc biệt, các hoạt động kinh tế phát triển doc theo các hành lang giao thông chủ chốt sau khi nâng cấp tuyến quốc tế Hà Nội – Lạng Sơn, Hành lang Kinh tế Đông – Tây thuộc GMS, tuyến quốc lộ thành phố Hồ Chí Minh – Phnôm Pênh đã giúp tạo ra công ăn việc làm và giảm đáng kể tỷ lệ nghèo tại khu vực này, ADB cũng đang hỗ trợ giải quyết vấn đề thiếu điện cung cấp, một trở ngài quan trọng đối với nỗ lực tiếp tục duy trì tốc độ tăng trưởng kinh tế cao, thông qua các khoản đầu tư vào các nhà máy nhiệt điện, thủy điện và hệ thống truyền tải điện.

               Hoạt động hỗ trợ ADB cho khu vực tư nhân thông qua các khoản cho vay chính sách và phát triển các tổ chức tài chính phi ngân hàng đã trợ giúp cho những nỗ lực của chính phủ và khiến các công ty tư nhân phát triển mạnh cả về số lượng cũng như vốn đăng ký.

               Hỗ trợ của ADB đối với phát triển nông thôn và thủy lợi đã giúp tăng năng suất nông nghiệp và thu nhập của người nông dân thông qua việc nâng cao khả năng tiếp cận thị trường và các đầu vào sản xuất, đa dạng hóa các loại cây trồng có giá trị cao và cải tiến các thông lệ quản lý nguồn nước.

               Kể từ những năm 1990, hỗ trợ của ADB cũng đã có tác động đối với các lĩnh vực xã hội, chẳng hạn như trong lĩnh vực y tế dự phòng, kiểm soát dịch bệnh xuyên biên giới, giáo dục trung học và giáo dục chuyên nghiệp. ADB đã trợ giúp Chính phủ nâng cao chất lượng của cán bộ nhà nước thông qua chương trình đào tạo và hiện đại hóa quản lý nhà nước và hỗ trợ những nỗ lực đấu tranh của Chính phủ chống lại nạn tham nhũng và hướng đến bình đẳng giới.

 

Bảng.ViệtNam: Các chỉ số kinh tế, 2004-2008

Chỉ số kinh tế

2004

2005

2006

2007

2008

GNI theo đầu người, thính theo phương pháp Altas (USD)

540

620

700

790

 

Tăng trưởng GDP (% so với năm trước)

7.8

8.4

8.2

8.5

6.2

CPI (% so với năm trước)

7.7

8.3

7.5

8.3

23.0

Tỷ lệ thất nghiệp (%)

5.6

5.3

4.8

4.6

4.7

Cán cân tài chính (%GDP)

-1.3

-3.6

-1.2

-5.5

-4.7

Tăng trưởng xuất khẩu (% so với năm trước)

31.4

22.5

22.7

21.9

29.1

Tăng trưởng nhập khẩu (% so với năm trước)

26.6

21.2

22.1

38.3

28.1

Cán cân tài chính vãng lai (% của GDP)

-3.4

-0.9

-0.3

-9.9

-9.3

Nợ nước ngoài (% GNI)

40.5

36.9

33.9

34.7

 

… = không có số liệu, CPI = chỉ số giá tiêu dùng, GDP = tổng sản phẩm quốc nội, GNI = tổng thu nhập quốc gia.

Nguồn: ADB 2009. Triển vọng phát triển Châu Á 2009.

                      Ước tính của chuyên gia ADB

                      Ngân hàng thế giới. 2009. Dữ liệu trực tiếp các chỉ số của thế giới.

 

Bảng.ViệtNam: Các khoản vay, hỗ trợ kỹ thuật và viện trợ không hoàn lại được phê duyệt trong năm 2008(triệu USD)

Cho vay

Chính phủ

Phi chính phủ

Hỗ trợ kỹ thuật

Viện trợ không hoàn lại

Tổng cộng

764.7

25.0

26.9

5.2

821.8

 

Tổng cộng các khoản cho vay lũy kế (tính đến ngày 31 tháng 12 năm 2008): 6.294,1 triệu USD.

Tổng số giải ngân lũy kế (tính đến ngày 31 tháng 12 năm 2008): 2.633,7 triệu USD

 

 

Định hướng tương lai

 

Chương trình và Chiến lược Quốc gia (CSP) hiện tại của ADB cho giai đoạn 2007-2010 được gắn kết và hỗ trợ cho việc thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội (SEDP) của Chính phủ giai đoạn 2006-2010. Chương trình và Chiến lược Quốc gia giải quyết những vấn đề hạn chế về cơ sở hạ tầng, phát triển xã hội, giảm nghèo và nâng cao chất lượng sống. CSP hướng mục tiêu đến sự tăng trường kinh tế vì người nghèo dựa trên sự phát triển của các doanh nghiệp, phát triển xã hội toàn diện và cải thiện việc quản lý tài nguyên thiên nhiên. Quản lý điều hành tốt, bình đẳng giới và thúc đẩy hợp tác khu vực cũng là những yếu tố chủ chót trong CSP.

               CSP đề cao vai trò phát triển của khu vực tư nhân, bao gồm cả mối quan hệ đối tác nhà nước tư nhân và sẽ dần dần chuyển các khoản hỗ trợ từ cách tiếp cận truyền thống dựa trên dự án sang các hình thức cho vay khác đa dạng hơn. Trọng tâm chính sẽ tập trung giải quyết các trở ngại phát sinh gây cản trở đối với việc tăng tốc đầu tư tư nhân, bao gồm những nỗ lực để i) phát triển cơ sở hạ tầng vật chất, ii) cải thiện môi trường tạo thuận lợi cho kinh doanh, iii) củng cố các thể chế tài chính và thể chế thị trường liên quan, iv) thúc đẩy việc phát triển nguồn nhân lực. Chương trình đầu tư của ADB thhucs đẩy phát triển xã hội toàn diện và tăng cường quản lý môi trường. Báo cáo Đánh giá giữa kỳ của CSP đang được xây dựng từ đầu năm 2009 nhằm kiểm điểm những thành tựu mà CSP đã đạt được các ưu tiên phát triển của Việt Nam trong thời gian cong lại của giai đoạn và giúp xây dựng CSP mới cho giai đoạn 2011-2015 trên cơ sở Kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội giai đoạn 2010-2015 và chiến lược mới của ADB, chiến lược 2020.

               Việt nam vẫn tiếp tục là một trong những đối tác nhận được nguồn hỗ trợ ưu đãi lớn nhất từ Quỹ Phát triển Châu Á (ADF), với khoản phân bổ dự kiến khoảng 713,8 triệu USD cho giai đoạn 2009-2010. Hoạt động vay vốn thông thường (OCR) cũng đem lại nguồn vốn bổ sung cho các dự án có tỷ suất thu hồi vốn cao hơn, chẳng hạn như các dự án cơ sở hạ tầng, với mức phân bổ khoảng 1 tỷ USD trong năm 2009. Tuy nhiên, nhu cầu vay vốn thông thường còn lớn hơn mức phân bổ đó nhiều và dự kiến sẽ còn tiếp tục ở mức cao trong trung hạn.

               Do Việt nam nằm trong số những quốc gia rất dễ chịu ảnh hưởng của biến đổi khí hậu, cùng với các đối tác phát triển khác, ADB đang chuẩn bị hỗ trợ việc thực thi chương trình quốc gia của Chính phhur để giải quyết những tác động của biến đổi khí hậu

 

Bảng.ViệtNam: Tổng số các khoản cho vay lũy kế của ADB tính đến ngày 31 tháng 12 năm 2008

 

Lĩnh vực

Số lượng

Tổng giá trị (triệu USD)

Tỷ lệ (%)a

Nông nghiệp và tài nguyên thiên nhiên

19

842.97

13.93

Giáo dục

8

330.50

5.25

Năng lượng

9

980.14

15.57

Tài chính

10

467.00

7.42

Y tế, Dinh dưỡng và An sinh xã hội

7

241.20

3.83

Công nghiệp và thương mại

4

108.50

1.72

Luật, Quản lý kinh tế và Chính sách công

6

196.40

3.12

Đa ngành

8

355.69

5.65

Giao thông vận tải

18

2,378.90

37.80

Cấp nước, Vệ sinh và Quản lý chất thải

9

392.82

6.24

Tổng cộng

98

6,294.12

100.00

a: Tổng số có thể không tròn 100% do làm tròn số

 

 

Bảng.ViệtNam: Tỷ lệ các dự án thành công

 

Theo lĩnh vực

Tỷ lệa

Số lượng các dự án/chương trình được đánh giá

Nông nghiệp và tài nguyên thiên nhiên

50.0

8

Giáo dục

100.0

2

Năng lượng

66.7

3

Tài chính

100.0

3

Y tế, Dinh dưỡng và An sinh xã hội

100.0

1

Luật, Quản lý kinh tế và Chính sách công

100.0

3

Đa ngành

75.0

4

Giao thông vận tải

100.0

6

Cấp nước, Vệ sinh và Quản lý chất thải

75.0

4

Tổng cộng

79.4

34

Theo năm phê duyệt

1970-1979

0.0

5

1990-1999

91.7

24

2000-2008

100.0

5

         

 

aDựa trên tổng hợp kết quả các báo cáo kết thúc dự án/chương trình (PCR), các báo cáo xác nhập PCR (PCRVR), và các báo cáo đánh giá chương trình/dự án (PPER) sử dụng các kết quả xếp hạn của PCRVR/PPER

Nguồn: Các báo cáo PCR, PCRVR, và PPER có kết quả xếp hạng được công bố tính đến ngày 31 tháng 12 năm 2008

Video hoạt động

    Ảnh hưởng của biến đổi khí hậu ở vùng Đồng bằng sông Hồng
  • Một giải pháp chống xói lở bờ biển
  • Kết quả Dự án Hỗ trợ chuẩn bị sẵn sàng thực hiện REDD+ ở Việt Nam
  • Hỗ trợ chuẩn bị sẵn sàng thực hiện REDD+ở Việt Nam
  • Sẵn sàng thực hiện REDD+ ở Việt Nam

Thông tin thời tiết
Tỷ giá ngoại tệ
Lịch phát sóng
ATM

Link liên kết

cá koi, ca koi nhat ban, ca koi viet may loc be ca thiet ke thi cong ho ca koi dep