Mô hình đồng quản lý rừng ngập mặn Sóc Trăng - Cần có định hướng để phát triển bền vững

26/06/2017
Diện tích và chức năng bảo vệ của các dải rừng ngập mặn (RNM) đối với hệ sinh thái ven biển không ngừng được tăng lên, ý thức bảo vệ rừng của người dân được nâng cao, điều kiện sống, phát triển sinh kế cho cộng đồng người dân địa phương sống dựa vào rừng ngày càng tốt hơn là những thành công thấy rõ của các mô hình đồng quản lý rừng ngập mặn được xây dựng tại tỉnh Sóc Trăng.

 

Tuy nhiên, theo các chuyên gia môi trường tại hội thảo báo cáo đánh giá thực hiện mô hình đồng quản lý RNM vừa được tổ chức tại Sóc Trăng, chính quyền địa phương và các chương trình hỗ trợ cần có các định hướng lâu dài, chính xác đảm bảo quyền và trách nhiệm giữa nhà nước, người dân và các bên liên quan để có thể duy trì tính bền vững của các mô hình này trong thời gian tới.

 

Hội thảo đánh giá kết quả thực hiện mô hình đồng quản lý tại Sóc Trăng

 

Theo thống kê, hiện tỉnh Sóc Trăng có hơn 16.310 ha rừng và đất lâm nghiệp. Diện tích đất rừng vùng ven biển hiện vào khoảng 5.684 ha, chiếm 4,8% diện tích tự nhiên của vùng ven biển và có thể tiếp tục tăng lên. Trong bối cảnh quỹ đất sản xuất phía trong rừng ngập mặn ngày càng thu hẹp, rừng ngập mặn Sóc Trăng vẫn đang bị suy giảm và không ngừng chịu sức ép của nước biển dâng, sóng biển tấn công, cũng như tác động của con người khai phá RNM để nuôi tôm, sản xuất nông nghiệp, xây dựng cơ sở hạ tầng, đối với Sóc Trăng, việc duy trì, phát triển “tuyến đê xanh” này nhằm bảo vệ môi trường, làm giảm nhẹ sức tàn phá khốc liệt của thiên tai, hạn chế lũ lụt, hạn hán, ngăn chặn xói mòn đất, bảo tồn hệ sinh thái đặc thù ven biển có vai trò quan trọng đối với phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh.

 

Từ năm 2000, tỉnh Sóc Trăng thực hiện các dự án khôi phục RNM, các dự án này nhằm mục đích khôi phục RNM, làm tăng độ phủ xanh của vùng ven biển để cải thiện chức năng của RNM và bảo vệ bờ biển. Tuy nhiên, các thể chế chính sách, dự án chưa khuyến khích người dân bảo vệ rừng vì giá trị, lợi ích của rừng do mức đầu tư cho quản lý bảo vệ rừng còn quá thấp và người dân chưa có thu nhập từ rừng để đáp ứng nhu cầu cuộc sống, cải thiện sinh kế của họ. Chính vì vậy, tình trạng hệ sinh thái RNM tại Sóc Trăng vẫn bị suy giảm.

 

Dưới sự hỗ trợ của Chương trình ICMP, từ năm 2008, tỉnh An Giang đã tiến hành xây dựng các mô hình "Đồng quản lý rừng ngập mặn" tại ấp Âu Thọ B (xã Vĩnh Hải, thị xã Vĩnh Châu), tiếp đó là các nhóm cộng đồng quản lý tại Mỏ Ó (xã Trung Bình, huyện Trần Đề) và Võ Thành (xã An Thạch Nam, huyện Cù Lao Dung). Với những phương pháp tiếp cận mới, các mô hình đã huy động người dân địa phương tham gia vào quá trình tái tạo, phát triển hệ sinh thái rừng ngập mặn, giúp tăng cường sức chống chịu của các khu rừng ngập mặn, thích ứng với biến đổi khí hậu, cung cấp nguồn lợi kinh tế cho người dân qua đó phát triển kinh tế - xã hội địa phương một cách bền vững. Các mô hình đồng quản lý đã trở thành các điểm sáng trong việc phối hợp giữa chính quyền và người dân trong trồng, bảo vệ và chia sẻ lợi ích từ rừng mà không làm ảnh hưởng tới môi trường tự nhiên.

 

Ông Thạch Soal - Nhóm trưởng đồng quản lý kiêm Tổ trưởng tổ 4, ấp Âu Thọ B, xã Vĩnh Hải cho biết, nhờ có sự hỗ trợ của Chương trình ICMP, đã giúp người dân ý thức được việc phải bảo vệ RNM, coi rừng như là “nguồn sống”, cũng là “người bạn” thân thiết của mình. Từ việc nhận thức được tầm quan trọng của rừng, người dân có chuyển biến rất tốt về hành vi cùng nhau phối hợp bảo vệ môi trường, khai thác hợp lý tài nguyên rừng, không chặt phá rừng, tự giác cao trong việc trồng thêm cây rừng vừa tạo ra đai rừng chắn sóng, chắn gió, vừa tạo môi trường bảo vệ cho các loại thủy sinh sống dưới tán rừng. Đời sống, thu nhập của người dân trong các tổ đồng quản lý cũng vì thế mà khấm khá hơn, đồng lòng gắn bó lâu dài với công tác bảo vệ rừng.

 

Trồng rừng ngập mặn lấn biển tại Sóc Trăng

 

Hiệu quả của các mô hình đồng quản lý RNM là rõ ràng, tuy nhiên theo TS. Nguyễn Kim Dung - Đại học Khoa học tự nhiên (ĐHQGHCM), qua gần 10 năm thực hiện, các mô hình đồng quản lý ở Sóc Trăng mới đang chỉ dừng lại ở mức độ hướng dẫn vì chưa tạo ra được sự đa dạng trong thành phần tham gia, thiếu sự tương tác với các thành phần kinh tế, tổ chức nghiên cứu, giáo dục và các tổ chức khác trong và ngoài nước, làm mô hình đơn giản và yếu kém về mạng lưới liên kết, dễ tổn thương trước các biến động về kinh tế, xã hội và môi trường. Nguồn ngân sách nhà nước chính thống dành cho các hoạt động đồng quản lý hiện nay không có, dẫn đến tuổi thọ của mô hình đang bị đe dọa theo tuổi thọ của các dự án tài trợ bên ngoài.

 

Bên cạnh đó, tuy trong quá trình triển khai các mô hình đồng quản lý, các nhóm cộng đồng tham gia đã nâng cao nhận thức và năng lực của họ nhưng sự tham gia của người dân vẫn thể hiện tính thụ động và chưa hiểu biết đầy đủ về đồng quản lý, vì vậy người dân vẫn chưa tạo ra được vị trí thương lượng mạnh mẽ cho mình để tương tác hiệu quả hơn với chính quyền và người dân bên ngoài trong các vấn đề về quản lý và sử dụng tài nguyên.

 

Thời gian qua, Trung ương đã có các chính sách khuyến khích lồng ghép thực hiện đồng quản lý trong các hoạt động bảo vệ rừng và tài nguyên thiên nhiên trong bối cảnh biến đổi khí hậu, nhưng các chính sách về đồng quản lý đang dừng ở mức chủ trương, trong khi đó các cấp, các ngành địa phương đang cần một khuôn mẫu cũng như khung pháp lý cụ thể để triển khai thực hiện mô hình.

 

Các chuyên gia cho rằng, trong thời gian tới, các mô hình đồng quản lý có thể tự tồn tại và mở rộng ra các địa phương khác nhưng cần phải có những đổi mới, cải thiện theo hướng thích nghi, tức là có sự giám sát, đánh giá thường xuyên và điều chỉnh kịp thời các bất cập trong quá trình thực hiện.

 

Trong thời gian tới, Chương trình ICMP mục tiêu sẽ tiếp tục hỗ trợ tỉnh Sóc Trăng và Cà Mau thực hiện đồng quản lý tại các khu RNM, vì vậy, để các mô hình được phát triển bền vững cần phải giữ vững những thành quả bước đầu thông qua việc tăng cường giám sát trách nhiệm các bên liên quan theo các quy định trong khuôn khổ thể chế, lồng ghép và tích hợp mô hình vào các hoạt động phát triển kinh tế, chính trị, xã hội của tỉnh, chú trọng cải thiện sinh kế cho người dân và thu hút các tổ chức đoàn thể liên kết với các mô hình đồng quản lý nhằm quản trị tốt tài nguyên tự nhiên, tranh thủ tối đa các nguồn hỗ trợ về tài chính và kỹ thuật từ các tổ chức quốc tế.

 

Bên cạnh đó, các mô hình cần phải có quy chế thay đổi, điều chỉnh thường xuyên cho phù hợp với tình hình thực tế. Trong quá trình thực hiện mô hình, người dân cần được chú trọng đầu tư phát triển năng lực tổ chức mô hình, nắm rõ luật pháp về quyền của mình và thúc đẩy thực hiện quyền của họ tại địa phương. Đồng thời, trong định hướng phát triển mô hình đồng quản lý cần gắn kết chặt chẽ với một số chương trình quốc gia đang được triển khai giúp khai thác tối đa các nguồn tài nguyên sẵn có phục vụ cho sự phát triển của mô hình.

Minh Trung - CTV


Các tin cũ hơn

Các tin mới hơn

Video hoạt động

    Ảnh hưởng của biến đổi khí hậu ở vùng Đồng bằng sông Hồng
  • Một giải pháp chống xói lở bờ biển
  • Kết quả Dự án Hỗ trợ chuẩn bị sẵn sàng thực hiện REDD+ ở Việt Nam
  • Hỗ trợ chuẩn bị sẵn sàng thực hiện REDD+ở Việt Nam
  • Sẵn sàng thực hiện REDD+ ở Việt Nam

Thông tin thời tiết
Tỷ giá ngoại tệ
Lịch phát sóng
ATM

Link liên kết

cá koi, ca koi nhat ban, ca koi viet may loc be ca thiet ke thi cong ho ca koi dep